Luật kinh doanh bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm


số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt độngkinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
Căn cứ vào Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định về kinh doanh bảo hiểm,

Luật kinh doanh bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm 


Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.Phạm vi điều chỉnh.

1.Luật này điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác địnhquyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.
2.Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
Điều 2.Áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm, pháp luật có liên quan, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế.

Điều 31.Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người.

2.Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây:

a)Bản thân bên mua bảo hiểm;
b)Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;
c)Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;
d)Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Điều 32.Số tiền bảo hiểm con người.
Sốtiền bảo hiểm hoặc phương thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểmvà doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 33.Căn cứ trả tiền bảo hiểm tai nạn, sức khỏe con người.
1.Trong bảo hiểm tai nạn con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thựctế của người được bảo hiểm và thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2.Trong bảo hiểm sức khỏe con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khámbệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người được bảo hiểm do bệnh tật hoặc tainạn gây ra và thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 34. Thôngbáo tuổi trong bảo hiểm nhân thọ.

1.Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm.

2.Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm,nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảohiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý cóliên quan. Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lênthì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại củahợp đồng bảo hiểm.

3.Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểmlàm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫnthuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:
a)Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảohiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng;

b)Giảm số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với sốphí bảo hiểm đã đóng.

4.Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểmdẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểmvẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàntrả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiềnbảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đãđóng.
 
 
Loading...
Hotline: 0932 377 138